
Khi nghe cô ấy nói mức công chỉ một đô la cho một giờ lao động chân tay, hắn không khỏi cảm thấy chạnh lòng. Ở nhiều quốc gia phát triển, người lao công, nhân viên vệ sinh đi làm bằng ô tô, được trả thù lao cả trăm đô la. Trái lại, tại Việt Nam hay nhiều nước Đông Nam Á đang phát triển, thu nhập của lao động phổ thông vẫn chỉ dừng ở những đồng tiền khiêm tốn. Nghĩ cũng buồn, cùng một công sức, cùng một giọt mồ hôi, nhưng giá trị lao động lại chênh lệch quá xa. Điều này dĩ nhiên xuất phát từ sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn.
Đáng nói hơn, ở không ít nơi, tư duy của một số chủ sử dụng lao động vẫn nặng tính “bóc lột” khi trả công không tương xứng với sức lao động. Có doanh nghiệp đăng tuyển vị trí kế toán thuế nhưng mức lương chỉ vừa đủ thuê phòng trọ, lại còn đặt ra hàng loạt yêu cầu khắt khe. Với những điều kiện như vậy, chỉ những ai thực sự đam mê, giàu nhiệt huyết hoặc gắn bó vì tình yêu nghề mới có thể tiếp tục cống hiến lâu dài.
Không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp, thậm chí cả những người đã đi làm, buộc phải chuyển hướng sang công việc trái ngành, hoặc tạm gác ước mơ để lo mưu sinh hằng ngày. Có những người cầm trên tay tấm bằng đại học, cuối cùng chọn làm công nhân vì lương công nhân còn đủ trang trải cuộc sống, trong khi lương giáo viên chưa vào biên chế thì chỉ đủ tiền sữa cho con.
Đáng chú ý, nhiều người nước ngoài yêu mến đất nước và con người Việt Nam, say đắm cảnh sắc nơi đây như chốn bồng lai tiên cảnh. Thế nhưng, nhiều người trong số đó vẫn e dè khi nghĩ đến việc làm việc, lập nghiệp tại Việt Nam, đơn giản chỉ vì mức thu nhập quá thấp.
Thực trạng đáng lo hơn nữa là xu hướng “giảm giá sâu” để cạnh tranh, thu hút khách hàng. Về phía người tiêu dùng, giá rẻ là một lợi ích rõ ràng. Nhưng khi giá bị kéo xuống tới mức bất hợp lý, chi phí sản xuất buộc phải cắt giảm, đồng nghĩa với việc sức lao động của nhân công cũng bị hạ thấp. Hệ quả là đời sống gia đình của họ trở nên bấp bênh, chật vật. Khi công sức bỏ ra không được đền đáp xứng đáng, thì còn động lực đâu mà phấn đấu.
