
Buổi sáng cuối tuần nắng sớm, tôi bước vào bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Từng đoàn xe du lịch hối hả dừng đỗ trước cổng. Đây không phải là lần đầu tiên tôi đặt chân tới bảo tàng, nhưng mỗi lần tới tôi lại cảm thấy phảng phất một nỗi buồn man mác. Chiến tranh đã đi qua, nhưng dư âm, mất mát để lại sống động ở nơi này hơn bất kỳ đâu. Có khách hàng của tôi từng chia sẻ, không dám qua đây, họ là những người rời quê hương khi đất nước còn chìm trong khói đạn cuộc chiến, họ không muốn gợi nhắc về những đau thương của tuổi thơ khổ hạnh đã qua.
Bảo tàng được xếp hạng là nơi đáng thăm nhất khi tới Việt Nam. Bản thân là người địa phương, tôi không khỏi cảm thấy bùi ngùi, tự hào về những điều mà thế hệ cha ông đã hy sinh để chúng tôi được sống trong tự do, hòa bình như ngày hôm nay. Cánh chim bồ câu trắng đã từng nhuốm bao nhiêu máu và nước mắt. Tôi bước vào từ tầng một lên các tầng phía trên, nhìn thấy ánh mắt bùi ngùi của những vị khách quốc tế, ở họ có gì đó rất “da diết”. Những hình ảnh máy chém ở chuồng cọp, tiếng la hét của tù nhân ở các nhà tù được mô phỏng, hình ảnh những đứa trẻ, những người cộng sản đầy máu ám ảnh bất kỳ ai. Chưa kể, những bức ảnh lính Mỹ chụp với thủ cấp của người cộng sản, hình thức tra tấn dã man, hình ảnh các nạn nhân bị biến dạng nặng nề bởi chất độc màu da cam khiến khách tham quan đầy suy ngẫm, trăn trở, tiếc thương. Họ đang ở đây, chứng kiến những ký ức chiến tranh Việt Nam, một trong những cuộc chiến đau thương nhất của nhân loại.
Chiến tranh mới kết thúc cách đây 49 năm kể từ ngày 30/4/1975 – Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất toàn quốc. Chúng tôi cảm thấy mình thật may mắn khi sinh ra thời bình. Cuốn sổ ghi cảm tưởng luôn kín chỗ ngồi, chắc hẳn ai cũng có nhiều cảm xúc khó tả. Những chiếc máy bay quân sự, xe tăng trưng bày khu ngoài trời cho khách chụp ảnh. Bước lạo xạo trên sỏi tại khu vực chuồng cọp, hình ảnh tra tấn “điên rồ” ở nhà tù như ở Côn Đảo, tôi như nghe thấy cả linh hồn những nạn nhân gào thét, trong bất lực, oán hận cùng cực.
Bảo tàng lúc nào cũng kín khách, từ khách đoàn tới khách cá nhân, họ đọc những dòng chữ, nhìn các bức ảnh với vẻ vẻ trầm mặc, xót xa. Chắc chắn đây là nơi khiến họ xúc động nhất trong hành trình khám phá lịch sử mảnh đất chữ S oai hùng này. Tôi ngồi dưới hàng ghế đá, ngắm nhìn bức rừng nhiệt đời bị tàn phá bởi chiến tranh, một khung cảnh tan thương, chết chóc. Dù chiến tranh có khốc liệt, nhưng tinh thần dân tộc, chính nghĩa đã chiến thắng, người Việt Nam nhỏ bé những ý chí lớn mạnh, quật cường. Đó là điều tôi cảm nhận và như được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi tới đây. Tôi thầm cảm ơn thế hệ đi trước đã hy sinh thầm lặng cho cuộc chiến, ngưỡng mộ vị tướng tài ngài Võ Nguyên Giáp, biết ơn chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần của chiến binh, tinh thần của người chiến sĩ cộng sản, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Tôi cần phải có thứ tinh thần đó!
Nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội cũng là một nơi để lại nhiều cảm xúc. Tôi chứng kiến cảnh tù binh bị giam hãm, họ gầy tới mức chỉ còn khung xương sườn, họ bị trói chân, xích tay, hay bị nhốt ở những căn phòng tối tăm, ẩm thấp, điều kiện sinh hoạt vô cùng thiếu thốn, bệnh tật không được chữa trị, phụ nữ tới ngày hành kinh không có nước tắm rửa, chiếc máy chém một lần nữa trưng ra ở giữa phòng, hình thức tra tấn bằng gậy sắt hay bị giam trong cũi..nơi mà quyền con người đã không được tôn trọng. Những kẻ xâm lược tàn bạo đã đối xử với tù binh như súc vật. Những người chiến sĩ cộng sản chết dần, chết mòn vì đói khát, bệnh tật, nhưng ngay cả trong lúc sống với án tử cận kề họ vẫn tuyên truyền, cổ động cách mạng, chiến đấu vì lý tưởng.
Tôi có thể gửi thấy mùi nhà tù ẩm thấp, đôi khi thấy rợn người khi bước càng gần tới các phòng biệt giam đặt biệt, tưởng tượng cảnh họ sống không bằng chết, bị đọa đày từ thân thể tới tinh thần, những dòng chữ thuyết minh chỉ làm cho tim tôi thấy nhói đau, phẫn uất rồi quặn lại. Tôi chưa bao giờ cảm thấy căm ghét chiến tranh như thế. Bao nhiêu con người phải đổ máu, gia đình tan nát, đất nước chia cắt, chỉ vì chiến tranh.
Tôi từng bị một song sắt làm bầm tím khi đi sâu vào phòng tối bên trong, nhìn hình ảnh một người tù nhân bị trói chân, trong bộ dạng chỉ còn da bọc xương. Tôi có thể cảm nhận được cuộc sống của họ ở đây, thậm chí linh hồn họ vẫn còn vương vấn trong hận thù chất chứa. Bước ra ngoài tôi thắp một nén nhang nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên cạnh là khách sạn 5 sao tráng lệ Somerset Grand Hanoi. Một nơi hoàn toàn đối lập sau khung sắt, hàng rào dây thép gai của nhà tù. Tôi ngồi dưới mái hiên bên cạnh là hình ảnh mô phỏng một người tù đang đào hầm để trốn. Khát vọng tự do, chưa bao giờ mãnh liệt khi ai đó đang bị giam cầm trong tù. Không ánh sáng, không gió, không khí trời, không mặt trời.
Bước khỏi cánh cổng, tôi không muốn đặt chân tới đó nữa, tôi biết ơn, trân trọng quá khứ nhưng nó quá buồn để trở lại, khác với các bảo tàng hay di tích chiến tranh khác, nhà tù Hỏa Lòa luôn khiến tôi cảm thấy trĩu nặng. Nhất là đi vào thời điểm chiều hôn, khi thưa thớt khách du lịch. Có khi chỉ cần chạy xe qua thôi, tôi đã cảm thấy ký ức sống đau thương chuỗi dậy.
Có hai bảo tàng về phụ nữ tôi hay ghé thăm, đầu tiên là Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở 36 Lý Thường Kiệt. Các phòng trưng bày kể về hôn nhân, việc sinh đẻ, thời trang phụ nữ Việt nhưng ấn tượng nhất là hình ảnh các bà trong chiến tranh. Tôi không thể rời mắt bức ảnh người mẹ khóc òa được đoàn tụ, đang chúi đầu người con trai là tử tù sau mấy chục năm xa cách. Dừng đọc câu chuyện của bác sĩ Đặng Thùy Trâm và những gì cô để lại ở tuổi hai mươi khiến tôi không khỏi cảm thấy sống mũi cay cay.
Những bức ảnh chân dung người mẹ Việt Nam anh hùng được treo ở một góc đặc biệt. Ánh mắt các bà, các mẹ..ánh mắt sâu thẳm như tôi có thể nhìn thấy đáy tận cùng của nỗi đau. Họ đã trải qua sự mất mát quá lớn, thậm chí có người không còn lại dù một đứa con trong cuộc chiến. Còn nỗi đau nào hơn thế khi phải chứng kiến từng khúc ruột, những đứa con chết dần, thậm chí mất tích ở một nơi không tên, tại một chiến trường hẻo lánh, không bao giờ trở về.
Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ ở 202 Võ Thị Sáu là điểm bạn cũng cần ghé thăm. Hình ảnh những chiếc áo còn nhuốm máu đỏ treo trong lồng kính khiến tôi có đôi phút bất thần, những người phụ nữ đã chiến đấu hết mình trong cuộc chiến, họ không chỉ là hậu phương, là chỗ dựa, mà họ còn trực tiếp tham gia xây dựng chiến hào, thực hiện thông tin liên lạc, bất chấp nguy hiểm tới nơi chiến sự. Bao nhiêu câu chuyện phi thường về những nữ chiến sĩ quả cảm tôi đọc được ở hai bảo tàng ấy, như tiếp thêm cho tôi sức mạnh và niềm tự hào. Là phụ nữ Việt, tôi không cho phép mình chùn bước trước khó khăn. Hãy chiến đấu như cách của các bà, các mẹ!
Bảo tàng chứng tích chiến tranh, Nhà Tù Hỏa Lò, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam hay Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ chỉ là vài cái tên muốn kể ra đây. Còn những nơi khác lưu giữ ký ức chiến tranh mà tôi chưa viết hết. Không chỉ là những địa điểm giáo dục tinh thần, địa điểm du lịch, di tích lịch sử, mà hơn thế nữa. Đó là những nơi bồi đắp niềm tự hào dân tộc của mỗi người con dân Việt. Tìm về với ký ức, lịch sử để nhắc nhở tôi sống có trách nhiệm với thành quả mà thế hệ ông, cha đã để lại.
Tôi tự hỏi? Mình có thể góp công sức nhỏ bé chi đây?
